Khi lập di chúc bằng miệng, có được nhờ hàng xóm làm chứng hay không?

Ngày hỏi:21/11/2022

Có được nhờ hàng xóm làm chứng khi lập di chúc bằng miệng? Nhờ người khác viết di chúc có cần người làm chứng? Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực?

Chào anh chị, cho em hỏi bà của em năm nay đã 90 tuổi, nay bà em có mong muốn lập di chúc để lại tài sản cho con cháu, anh chị cho em hỏi có được nhờ hàng xóm để làm chứng khi bà em lập di chúc bằng miệng hay không?

Nhờ anh chị tư vấn, cảm ơn anh chi đã hỗ trợ.

 

Nội dung này được Luật sư Trần Khánh Linh tư vấn như sau:

1. Có được nhờ hàng xóm làm chứng khi lập di chúc bằng miệng?

Tại Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về di chúc hợp pháp như sau:

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Tại Điều 632 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về người làm chứng cho việc lập di chúc như sau:

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Căn cứ theo quy định hiện hành, trong trường hợp lập di chúc bằng miệng thì cần có người làm chứng, nếu hàng xóm là người không có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc, đáp ứng các điều kiện trên thì có thể làm chứng khi lập di chúc bằng miệng.

2. Nhờ người khác viết di chúc có cần người làm chứng?

Tại Điều 634 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng như sau:

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.

Theo đó, trong trường hợp nhờ người khác viết di chúc thì cần phải có 02 người làm chứng, người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng theo quy định.

3. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực?

Tại Điều 638 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực như sau:

1. Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

2. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

3. Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.

4. Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.

5. Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

6. Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

Như vậy, di chúc nếu được lập theo quy định trên bằng văn bản thì sẽ có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Trân trọng!

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.