Phải có cổ đông sáng lập khi chuyển đổi Công ty TNHH sang Công ty cổ phần?

Ngày hỏi:07/10/2022

Công ty TNHH được chuyển đổi sang Công ty cổ phần thì phải có cổ đông sáng lập? Cổ phần của cổ đông sáng lập có được chuyển nhượng cho người khác không?

Chào Ban biên tập, tôi có vấn đề này cần được giải đáp. Tôi hiện tại là Giám đốc của Công ty TNHH W. Tôi đang có ý định chuyển đổi công ty của tôi sang Công ty cổ phần. Tôi nghe nói là Công ty cổ phần là bắt buộc phải có cổ đông sáng lập nên tôi mới thắc mắc là khi tôi chuyển đổi từ Công ty TNHH sang Công ty cổ phần thì có cần phải có cổ đông sáng lập không?

Rất mong được Ban biên tập giải đáp vấn đề này giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn.

Nội dung này được Ban biên tập LawNet tư vấn như sau:

Công ty TNHH được chuyển đổi sang Công ty cổ phần thì phải có cổ đông sáng lập?

Tại Khoản 1 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập như sau:

1. Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập. Công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phần khác không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập; trường hợp này, Điều lệ công ty trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc các cổ đông phổ thông của công ty đó.

Như vậy, theo quy định trên thì khi công ty TNHH chuyển sang Công ty cổ phần thì không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập. Việc có cổ đông sáng lập khi đã chuyển loại hình doanh nghiệp từ Công ty TNHH sang Công ty cổ phần nó không phải là điều bắt buộc.

Cổ phần của cổ đông sáng lập có được chuyển nhượng cho người khác không?

Theo Khoản 3 và Khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được quy định:

3. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần phổ thông thì không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó.

4. Các hạn chế quy định tại khoản 3 Điều này không áp dụng đối với cổ phần phổ thông sau đây:

a) Cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp;

b) Cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập.

Do đó, trong thời hạn 3 năm kể từ ngày có giáy phép hoạt động thì cổ phần của cổ đông sáng lập được chuyển nhượng cho người khác chỉ là cổ đông phổ thông nhưng muốn chuyển nhượng thì phải có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập.

Trân trọng!

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Người trả lời:

Ban biên tập LawNet

  • Ban biên tập LawNet
  • Click để xem thông tin