Có cần phải thành lập doanh nghiệp khi kinh doanh bất động sản không thường xuyên dưới dạng hộ gia đình?

Ngày hỏi:07/10/2022

Hộ gia đình kinh doanh bất động sản không thường xuyên thì có cần phải thành lập doanh nghiệp không? Kinh doanh bất động sản không thường xuyên không cần phải thành lập doanh nghiệp là những trường hợp nào?

Chào Luật sư, tôi có vấn đề cần được giải đáp ạ. Tôi đang có dự định kinh doanh bất động sản không thường xuyên dưới dạng hộ gia đình. Tôi thấy các hộ gia đình khác khi kinh doanh bất động sản đều phải thành lập doanh nghiệp nhưng mà nếu tôi hoạt động không thường xuyên thì có cần phải thành lập doanh nghiệp không ạ? Rất mong được Luật sư giải đáp, tôi xin chân thành cảm ơn.

Nội dung này được Ban biên tập LawNet tư vấn như sau:

Hộ gia đình kinh doanh bất động sản không thường xuyên thì có cần phải thành lập doanh nghiệp không?

Theo Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 75 Luật Đầu tư 2020 có quy định về điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản như sau:

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) và có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Như vậy, trong trường hợp của bạn khi bạn kinh doanh bất động sản không thường xuyên dưới dạng hộ gia đình thì bạn không cần phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Kinh doanh bất động sản không thường xuyên không cần phải thành lập doanh nghiệp là những trường hợp nào?

Tại Điều 5 Nghị định 02/2022/NĐ-CP những trường hợp kinh doanh bất động sản không thường xuyên mà không cần phải thành lập doanh nghiệp bao gồm:

1. Cơ quan, tổ chức thực hiện bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất do phá sản, giải thể, chia tách theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan, tổ chức thực hiện bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản là tài sản công theo quy định của pháp luật.

3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (AMC), công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thực hiện bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án bất động sản đang được dùng bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

4. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán nhà, công trình xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.

5. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu hợp pháp, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình.

6. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, cho thuê, cho thuê mua, chuyển nhượng bất động sản do mình đầu tư xây dựng mà không phải là dự án đầu tư xây dựng bất động sản để kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Trân trọng!

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Người trả lời:

Ban biên tập LawNet

  • Ban biên tập LawNet
  • Click để xem thông tin