Người có trách nhiệm đóng thuế sử dụng đất là ai?

Ngày hỏi:06/10/2011

Trước năm 1992 tôi có mua một lô đất nhà ở nhưng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì tôi nhờ em trai của chồng tôi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở đô thị), sau đó sổ đỏ tôi cất giữ và các giấy tờ khác có liên quan. Nhưng khi chồng tôi qua đời, em tôi lập gia đình một thời gian sau đó tôi làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua tên tôi nhưng em trai chồng tôi không chịu ký giấy chuyển nhượng sang tên cho tôi vì nó muốn chiếm đất của tôi cho nên tôi làm đơn kiện ra toà án, toà xử tôi thắng kiện. Toà án có quyết định giao cho UBND huyện thu hồi sổ đỏ và làm thủ tục cấp sổ đỏ mới lại cho tôi (quyết định thu hồi năm 2009). Năm 2011 tôi làm thủ tục đề nghị UBND huyện cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở đô thị cho tôi đứng tên; nhưng khi làm sang thủ tục cấp giấy tôi đến hỏi chi cục thuế huyện tiền nộp thuế bao nhiêu, chi cục thế trả lời là đóng thuế đất 100% giá trị qui định của nhà nước; đất tại thời điểm là 400.000đ/m2, tức là 500m2 đất nhà ở đô thị của tôi là 200 triệu tiền thuế và sau đó tôi có lên hỏi phòng địa chính huyện thì phòng địa chính huyện trả lời là cũng đóng tiền thuế 100% theo như giá của chi cục thuế trả lời. - Theo tôi là đất tôi đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở đô thị) rồi, cấp trước năm 1992. Nhà nước có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của em trai chồng tôi và cấp lại cho tôi chứ tại sao lại bắt tôi đóng thuế lại 100% như cấp đất mới hoàn toàn vậy. - Nhờ luật sư tư vấn giúp, tôi thành thật biết ơn.

Nội dung này được Luật sư Nguyễn Nguyên tư vấn như sau:

Tranh chấp đất đai giữa bạn và em trai chồng đã được giải quyết, căn cứ bản án đã tuyên, bạn có quyền làm đơn kê khai và cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Theo Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về thu tiền sử dụng đất, quy định các trường hợp không thu tiền sử dụng đất. Cụ thể Điều 3
1. Người được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 33 Luật Đất đai 2003.
2. Người được Nhà nước cho thuê đất và phải nộp tiền thuê đất theo quy định tại Điều 35 Luật Đất đai 2003.
3. Người sử dụng đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong khu công nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
A) Đất đã sử dụng ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) xác nhận không có tranh chấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai 2003;
B) Hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của pháp luật về đất đai.
5. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 87 Luật Đất đai 2003 và được quy định tại Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
6. Tổ chức kinh tế nhận góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp bằng tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, nay được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy nếu bạn kê khai cấp lại từ đầu thì phải nộp thuế theo quy định của pháp luật
Tại Điều 8 của Nghị định trên quy định nhà nước thu tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât.
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa nộp tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất theo căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 và điểm b, c khoản 2 Điều 6 Nghị định này.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất được tính theo giá bằng 50% giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở do tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất, tự chuyển mục đích sử dụng đất sang làm đất ở và đã phân phối đất ở đó cho cán bộ, công nhân viên của tổ chức trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này, cụ thể như sau:
A) Thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở; quy định này chỉ được thực hiện một lần đối với hộ gia đình, cá nhân; lần giao đất sau thu 100% tiền sử dụng đất;
B) Thu tiền sử dụng đất bằng 100% tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức giao đất ở.
như vậy bạn phải hỏi xem đối với trường hợp của bạn, nếu diện tích đất cấp vượt quá hạn mức đất ở được giao thì sẽ phải đóng tiền sử dụng đất bằng 100% giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.